Vận chuyển khí là gì

💡 Thăm dò chức năng thông khí phổi là gì?

🔥 Quá trình hô hấp bình thường diễn ra qua nhiều giai đoạn phức tạp bao gồm: thông khí, trao đổi khí qua màng phế nang mao mạch, vận chuyển khí trong máu và hô hấp tế bào. Hiện nay, chưa có phương pháp thăm dò nào có thể đánh giá tất cả các giai đoạn nêu trên. Trong thực tiễn lâm sàng, các bác sĩ cần kết hợp nhiều phương pháp khác nhau để đánh giá đầy đủ chức năng của hệ hô hấp như: đo chức năng thông khí, khả năng khuếch tán khí qua màng phế nang mao mạch, khí máu động mạch, định lượng lactat…

☘️ Thăm dò chức năng thông khí phổi [hay bị gọi nhầm là đo chức năng hô hấp] là kỹ thuật đánh giá một phần chức năng của bộ máy hô hấp được sử dụng nhiều nhất hiện nay. Kỹ thuật giúp ghi lại những thông số hô hấp liên quan đến hoạt động của phổi, từ đó giúp đánh giá hai hội chứng rối loạn thông khí: tắc nghẽn và hạn chế.

👉 Đo chức năng thông khí là một thăm dò khá đơn giản, không xâm nhập, ít gây khó chịu và tai biến cho bệnh nhân.

Bệnh nhân đo chức năng thông khí tại TT Hô Hấp – BV Bạch Mai

💡 Chỉ định của chức năng thông khí phổi?

☘️ Chẩn đoán

👉 Đánh giá các triệu chứng, dấu hiệu hoặc các kết quả xét nghiệm bất thường nghi do bệnh lý hô hấp như: ho, khó thở, khạc đờm, giảm Oxy máu, đa hồng cầu..

👉 Đánh giá tác động của các bệnh lý, rối loạn khác lên cơ quan hô hấp

👉 Sàng lọc cho các đối tượng có yếu tố nguy cơ như: hút thuốc lá, làm việc trong môi trường độc hại…

👉 Đánh giá nguy cơ trước phẫu thuật, thủ thuật

👉 Đánh giá chức năng phổi trước khi tập luyện gắng sức, tập phục hồi chức năng

👉 Đánh giá mức độ thương tật

☘️ Theo dõi

🔖 Theo dõi mức độ tiến triển của các bệnh lý như: COPD, Hen phế quản, Bệnh phổi kẽ…

🔖 Theo dõi đáp ứng sau một can thiệp điều trị

🔖 Theo dõi chức năng phổi ở những người đang dùng thuốc có nguy cơ trên hệ hô hấp hoặc ở người lao động làm việc trong môi trường độc hại

💡 Chống chỉ định của đo chức năng thông khí?

👉Tràn khí màng phổi

👉 Tổn thương phổi có nguy cơ biến chứng khi làm hô hấp ký: Kén khí lón của phổi, ho ra máu nhiều, áp xe phổi…

👉 Tình trạng tim mạch không ổn định: Nhồi máu cơ tim cấp, rối loạn nhịp tim, nhồi máu phổi, tụt huyết áp, suy tim mất bù…

👉 Mới phẫu thuật ngực, bụng trong vòng 4 tuần

👉 Tăng áp lực nội sọ/nội nhãn do: u não, phẫu thuật não trong vòng 4 tuần, phẫu thuật mắt trong vòng 1 tuần

👉 Nhiễm trùng/phẫu thuật vùng mũi xoang, tai giữa trong vòng 1 tuần

👉 Chấn thương vùng hàm mặt, lồng ngực

👉 Nghi ngờ các bệnh lý truyền nhiễm lây lan qua đường hô hấp

👉 Mang thai những tháng cuối

👉 Bệnh nhân không hợp tác: rối loạn tâm thần, giảm thính lực…

🔽 Lưu ý trước khi đo chức năng thông khí?

Dừng các thuốc ảnh hưởng đến kết quả đo như: thuốc giãn phế quản, thuốc chẹn beta adrenergic

Không ăn quá no, vận động, gắng sức nặng trước khi đo

Không uống rượu trong vòng 4h trước khi đo

Không hút thuốc lá trong vòng 1h trước khi đo

Nới lỏng quần áo, khăn quàng…

🔵 Làm gì trong khi đo chức năng thông khí?

🔹 Trước tiên bệnh nhân sẽ được đo chiều cao, cân nặng

🔹 Nhân viên y tế sẽ hướng dẫn bệnh nhân cách hít thở qua một ống đo, sau đó máy tính sẽ tính toán rồi đưa ra giá trị các thông số đo được

🔹 Nếu phát hiện bất thường trên kết quả ban đầu, bệnh nhân có thể được yêu cầu làm thêm một số kỹ thuật như: test hồi phục phế quản hoặc đo dung tích toàn phổi…

[Nguồn: Trung tâm Hô hấp - Bệnh viện Bạch Mai]

Quá trình trao đổi khí được đo bằng một số phương pháp, bao gồm:

  • Khả năng khuếch tán carbon monoxide

  • Đo độ bão hòa oxy máu theo xung mạch

  • Khí máu động mạch

Khả năng khuếch tán Carbon Monoxide

Khả năng khuếch tán của carbon monoxide [DLCO] là thước đo khả năng chuyển khí từ phế nang qua biểu mô phế nang và nội mô mao mạch đến các tế bào hồng cầu. DLCO không chỉ phụ thuộc vào diện tích và độ dày của hàng rào khí-máu mà còn phụ thuộc vào thể tích máu trong mao mạch phổi. Sự phân bố thể tích phế nang và thông khí cũng ảnh hưởng đến phép đo.

DLCO được đo bằng cách lấy mẫu khí thở ra cuối cùng để đo carbon monoxide [CO] sau khi bệnh nhân được hít một lượng nhỏ khí CO, nín thở và thở ra. DLCO đo được nên được điều chỉnh cho thể tích phế nang [được ước tính từ quá trình pha loãng helium Thể tích phổi ] và hematocrit của bệnh nhân. DLCO được ghi nhận với đơn vị là mL/phút/mmHg và dưới một tỷ lệ phần trăm của một giá trị dự đoán.

Tình trạng làm giảm DLCO

Các tình trạng chủ yếu ảnh hưởng đến mạch máu phổi, như tăng áp động mạch phổi Tăng áp phổi nguyên phát và tắc mạch phổi Tắc mạch phổi [PE] , làm giảm DLCO. Các tình trạng ảnh hưởng đến thông khí phổi, như khí phế thũng Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính [COPD] và xơ phổi Xơ phổi vô căn , giảm cả DLCO và thông khí phế nang [VA]. Giảm DLCO cũng xảy ra ở những bệnh nhân bị cắt phổi trước đó vì tổng thể tích phổi nhỏ hơn, nhưng DLCO điều chỉnh hoặc thậm chí vượt quá mức bình thường khi điều chỉnh theo VA vì có sự tăng thêm diện tích bề mặt mạch máu được hổi phục trong phần phổi còn lại. Bệnh nhân thiếu máu có DLCO thấp hơn giá trị đúng khi điều chỉnh theo hemoglobin.

Tinh trạng làm tăng DLCO

Các điều kiện gây ra DLCO cao hơn dự đoán bao gồm:

  • Suy tim Suy tim [HF]

  • Đa hồng cầu

  • Xuất huyết phế nang Xuất huyết phế nang lan tỏa

  • Hen Hen phế quản

DLCO tăng lên trong suy tim có lẽ là do áp lực tĩnh mạch và động mạch phổi tăng lên làm tăng các mạch máu nhỏ trong phổi. Trong bệnh đa hồng cầu, DLCO tăng do hematocrit tăng và sự tăng sinh mạch máu xảy ra do áp lực mạch phổi tăng vì độ nhớt tăng. Trong xuất huyết phế nang, hồng cầu trong phế nang cũng có thể liên kết với carbon monoxide, làm tăng DLco. Trong bệnh hen, sự gia tăng DLCO được cho là do sự tăng sinh mạch; tuy nhiên, một số dữ liệu cho thấy nó cũng có thể là do yếu tố tăng trưởng đã kích thích quá trình tăng sinh mạch.

Đo độ bão oxy máu theo xung mạch

Đo độ bão hòa oxy máu theo xung mạch qua da giúp ước lượng độ bão hòa oxy [SpO2] của máu mao mạch dựa trên sự hấp thụ ánh sáng từ các điốt phát sáng đặt tại đầu một ngón tay hoặc một đầu dò bám dính. Các ước tính nói chung là rất chính xác và tương quan trong vòng 5% độ bão hòa oxy máu động mạch đo được [SaO2]. Kết quả có thể kém chính xác hơn ở bệnh nhân:

  • Sắc tố da cao

  • Loạn nhịp tim

  • Huyết áp thấp

  • Co mạch hệ thống nhiều

Kết quả đo độ bão hòa oxy theo xung mạch cũng ít chính xác hơn ở bệnh nhân dùng sơn móng tay.

Phép đo oxy này chỉ có thể phát hiện ra oxyhemoglobin hoặc giảm hemoglobin chứ không phải các loại hemoglobin khác [ví dụ carboxyhemoglobin, methemoglobin]; những loại này được giả định là oxyhemoglobin và làm sai lệch SpO2 đo được.

Kiểm tra khí máu động mạch [ABG]

Lấy mẫu khí máu động mạch có thể đo được chính xác phân áp oxy trong máu động mạch [PaO2], phân áp carbon dioxide trong máu động mạch [PaCO2] và pH máu động mạch; các giá trị này được điều chỉnh theo thân nhiệt của bệnh nhân cho phép tính toán lượng bicarbonate [cũng có thể được đo trực tiếp từ máu tĩnh mạch] và SaO2. Lấy khí máu động mạch cũng có thể đo chính xác carboxyhemoglobin và methemoglobin.

Vị trí lấy máu thường tại động mạch quay. Vì chọc vào động mạch trong một số ít trường hợp có thể dẫn đến huyết khối và giảm tưới máu tại các mô ở xa, nên nghiệm pháp Allen có thể được thực hiện để đánh giá mức độ tuần hoàn bàng hệ. Trong nghiệm pháp này, động mạch quay và trụ đồng thời bị ép cho đến khi tay bệnh nhân trở nên nhợt nhạt. Sau đó người ta bỏ ép động mạch trụ trong khi vẫn ép tại vị trí động mạch quay. Nếu toàn bộ bàn tay hồng trở lại trong vòng 7 giây sau khi bỏ ép động mạch trụ chứng tỏ có sự tưới máu đầy đủ thông qua động mạch trụ.

Trong điều kiện vô trùng, kim tiêm cỡ 22 đến 25 gauge được gắn vào một ống tiêm có tráng heparin và chọc vào gần vị trí mạch quay đập, từ từ đưa mũi kim một cách nhẹ nhàng vào động mạch cho đến khi có máu chảy vào bơm tiêm. Huyết áp tâm thu thường đủ để dòng máu đẩy ngược lại pitton của bơm tiêm. Sau khi lấy được từ 3 đến 5mL máu, nhanh chóng rút kim ra và ấn vào vị trí đâm để tạo giúp cầm máu. Đồng thời, mẫu khí máu được bảo quản lạnh để làm giảm lượng oxy tiêu thụ và sản xuất CO2 của các bạch cầu, sau đó mẫu máu được gửi đến phòng thí nghiệm.

Oxy hóa

Giảm oxy máu là sự giảm phân áp của oxy [PO2] trong máu động mạch; thiếu oxy là giảm PO2 trong mô. Khí máu động mạch đánh giá chính xác có thiếu oxy máu không, thường được định nghĩa là PaO2 đủ thấp để làm giảm SaO2 dưới 90% [tức là PaO2

Chủ Đề